Các dịch vụ:
* Cho thuê lao động sản xuất: 0981.293.005 - 0969.786.635

Cho thuê lao động uy tín chuyên nghiệp

 Doanh nghiệp đã thực hiện ký quỹ 2.000.000.000 đồng (hai tỉ Việt Nam đồng) tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Điều 21 Nghị định 29/2019/NĐ-CP quy định các trường hợp không được cho thuê lại lao động như sau:

1. Doanh nghiệp cho thuê hoặc bên thuê lại lao động đang xảy ra tranh chấp lao động, đình công hoặc cho thuê lại lao động để thay thế người lao động đang trong thời gian thực hiện quyền đình công, giải quyết tranh chấp lao động.

2. Doanh nghiệp cho thuê không thỏa thuận cụ thể về trách nhiệm bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của người lao động thuê lại với bên thuê lại lao động.

3. Không có sự đồng ý của người lao động thuê lại.

4. Thay thế người lao động bị cho thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp hoặc vì lý do kinh tế.

Như vậy, doanh nghiệp được cấp giấy phép giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động khi đáp ứng được các điều kiện theo quy định nêu trên.

“Hợp đồng lao động” thời vụ là sự thỏa thuận giữa “Người Lao Động” và “Người sử dụng lao động” về việc làm có trả lương theo mùa vụ hoặc công việc nhất định có tính chất không thường xuyên, có thời hạn dưới 12 tháng, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

“Người sử dụng lao động” được phép ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ trong các trường hợp sau:

“Hợp đồng lao động” thời vụ được ký kết trong trường hợp giao kết công việc giữa “Người sử dụng lao động” và “người lao động” là công việc có tính chất tạm thời, không thường xuyên, hoặc công việc có thể hoàn thành trong thời hạn 12 tháng.

Cho thuê lao động uy tín chuyên nghiệp


Trên thị trường hiện nay có rất nhiều đơn vị cung cấp dịch vụ cung ứng lao động, cho thuê lao động thời vụ. Tuy nhiên không phải đơn vị nào cũng đủ năng lực để làm việc trong lĩnh vực này. Các điều kiện cần và đủ để các công ty cung ứng lao động có thể hoạt động đó là: Giấy phép kinh doanh, giấy ký quỹ và giấy phép cung ứng lao động của tỉnh cấp. Trên là các yêu cầu về phần pháp lý kinh doanh, và phần còn lại là năng lực về hoạt động. Năng lực cung ứng nhân sự là một vấn đề chúng ta cần cân nhắc rất kỹ để có thể ký hợp đồng với 1 đơn vị có đầy đủ chức năng và năng lực làm việc trong ngành này.

Không được giao kết “Hợp đồng lao động” theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.

Trường hợp vị phạm, “Người sử dụng lao động” sẽ bị xử phạt hành chính từ 500.000 – 20.000.000 đồng tùy theo số lượng “Người Lao Động” mà họ vi phạm theo Khoản 1 Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP.

“Người Lao Động” ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ được hưởng quyền lợi như thế nào.

Khi ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ, “Người sử dụng lao động” phải đảm bảo các quyền lợi sau đây cho “Người Lao Động”:

Được tham gia BHXH, BHYT, BHTN nếu hợp đồng lao động từ đủ 1 tháng trở lên

Được trả tiền BHXH, BHYT, BHTN và phép năm vào lương theo K3, Điều 186 Bộ Luật Lao động nếu Hợp đồng lao động dưới 1 tháng.

Được bảo vệ quyền lợi chính đáng như không bị đuổi việc vô cớ, được trả lương đúng hạn,riêng với lao động nữ được hưởng chế độ thai sản, được nghỉ ngơi trong thời gian hành kinh…. theo quy định pháp luật lao động.

Ngoài ra, khi có xảy ra tranh chấp giữa “Người sử dụng lao động” và “người lao động” thì “người lao động” có cơ sở để Tòa án giải quyết quyền lợi cho “người lao động”.

Trường hợp đã ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ 02 lần thì có được phép ký tiếp “Hợp đồng lao động” thời vụ không?

Pháp luật lao động chưa hạn chế số lần ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, công việc được giao kết “Hợp đồng lao động” thời vụ phải là công việc có tính chất tạm thời, không thường xuyên. Do đó, việc ký liên tục nhiều hợp đồng thờ vụ thì có thể được xem là công việc này đã mang tính thường xuyên rồi, Do đó, để giải thích rõ trường hợp này, chúng ta chia hai trườn hợp như sau:

- Nếu công ty ký “Hợp đồng lao động” thời vụ, sau khi hết hạn “Hợp đồng lao động” này, 02 bên (“Người sử dụng lao động” và “người lao động”) chấm dứt “Hợp đồng lao động”. Sau một thời gian, công ty lại ký “Hợp đồng lao động” thời vụ, thì việc ký kết “Hợp đồng lao động” này vẫn đúng quy định pháp luật vì công việc đó mang tính chất thời vụ. Và như vậy, việc ký kết “Hợp đồng lao động” như vậy là đúng quy định, không phụ thuộc vào số lần ký kết.

- Nếu công ty ký “Hợp đồng lao động” thời vụ, sau khi hết hạn “Hợp đồng lao động” này, 02 bên (“Người sử dụng lao động” và “người lao động”) lại tiếp tục ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ thì như vậy, rõ ràng công việc này không mang tính chất thời vụ nữa, việc ký kết này vi phạm quy định Bộ luật lao động 2013.

Cho thuê lao động uy tín chuyên nghiệp

- Bộ Luật lao động cũng có quy định là nếu đã ký 2 hợp đồng có xác định thời hạn thì hợp đồng thứ 3 phải ký không xác định thời hạn.

Sử dụng dịch vụ Cho Thuê Lại Lao Động: được hiểu là khi có nhu cầu về nhân sự, quý công ty sử dụng dịch vụ cung ứng lao động thuê ngoài để người lao động của công ty thuê ngoài thực hiện, nó gồm gất nhiều các dịch vụ khác nhau như Dịch vụ Cho thuê lại lao động, Dịch vụ tính lương, Dịch vụ bóc xếp, Dịch vụ đóng gói, Dịch vụ vệ sinh, dịch vụ chăm sóc đại lý (sale forces services, field forces services, Distributor Care), dịch vụ thuê PG đứng bán tại các cửa hàng, tiếp thị ngoài thị trường ….

Mối quan hệ giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và người lao động

Đây là quan hệ lao động được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động; được ký kết giữa doanh nghiệp cho thuê lao động và người lao động. Như vậy, doanh nghiệp cho thuê lao động được xác định là người sử dụng lao động và phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ tương ứng. Như vậy, pháp luật có xu hướng quy kết trách nhiệm cho doanh nghiệp cho thuê lại lao động khi xảy ra các vấn đề liên quan đến quyền lợi của người lao động như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải thực hiện các nghĩa vụ khác nhau trả lương; thưởng cho người lao động. Tuy không có hành vi sử dụng lao động một cách trực tiếp, nhưng doanh nghiệp cho thuê lại lao động vẫn thực hiện hoạt động quản lý gián tiếp thông qua việc điều động, đưa người lao động đi làm việc tại các địa điểm theo phân công của bên thuê lại lao động. Như vậy, việc xác định mối quan hệ giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và người lao động và quan hệ lao động không mâu thuẫn với định nghĩa về quan hệ lao động trong Bộ luật lao động năm 2012.
2. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động

Đây là quan hệ kinh doanh thương mại giữa một bên là thương nhân và bên còn lại có thể là thương nhân hoặc không và cả hai bên đều nhằm mục đích lợi nhuận. Theo đó, bên cho thuê lại lao động chỉ có thể là doanh nghiệp, phải thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp hợp pháp với ngành nghề kinh doanh bao gồm cho thuê lại lao động. Bên cạnh đó, doanh nghiệp này còn phải xin cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động. Sau đó, mới đủ điều kiện tiến hành kinh doanh trên thực tế. Trong khi đó, điều kiện này không được đặt ra với bên thuê lại lao động.

Hợp đồng giữa bên cho thuê và thuê lại lao động; được gọi là hợp đồng cho thuê lại lao động. Trong đó, bên thuê lại đặt ra các yêu cầu liên quan đến số lượng; trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động. Bên cho thuê sẽ điều động người lao động đến làm việc theo yêu cầu của bên thuê lại. Bên cho thuê lại được nhận một khoản tiền bao gồm cả tiền lương của người lao động; và sẽ thực hiện trách nhiệm trả lương này. Hết thời hạn giao kết trong hợp đồng; người lao động được hoàn trả lại cho doanh nghiệp cho thuê lại lao động.
3. Mối quan hệ giữa bên thuê lại lao động và người lao động

Cho đến thời điểm hiện tại, vẫn có những tranh cãi về bản chất của mối quan hệ này. Liệu đây có phải là quan hệ lao động hay không. Tuy bên thuê lại lao động có quyền quản lý sử dụng người lao động nhưng lại không ký kết hợp đồng, vi phạm định nghĩa được quy định trong Bộ luật lao động năm 2012. Và do đó, khó có thể xác định đây là quan hệ lao động. Nhìn chung, hiện nay, các quy định hiện hành cho thấy các nhà làm luật quan niệm đây là một quan hệ phái sinh từ quan hệ cho thuê lại lao động.



Người thuê lại không có trách nhiệm đối với người lao động; đồng thời cũng không có quyền nào, ngoại trừ quyền lý điều hành. Khi người lao động vi phạm kỷ luật, bên thuê lại không được quyền xử lý; mà phải chuyển về doanh nghiệp cho thuê lại. Như vậy, về bản chất, bên thuê lại và người lao động không có quá nhiều liên hệ về mặt quyền và nghĩa vụ mà chỉ qua một bên trung gian là doanh nghiệp cho thuê lại lao động.

Nên thực chất trong việc cho thuê lại lao động sẽ gồm ba mối quan hệ:

+ Thứ nhất là: Quan hệ giữa doanh nghiệp cho thuê lao động và người lao động được cho thuê lại:

Quan hệ này thực chất là quan hệ lao động được thiết lập trên cơ sở của hợp đồng lao động . Doanh nghiệp cho thuê lao động tuyển dụng và ký kết hợp đồng lao động với người lao động. Vì vậy, trong quan hệ này doanh nghiệp cho thuê lại lao động chính là người sử dụng lao động và lao động được cho thuê lại là người lao động. Người lao động tuy không làm việc tại doanh nghiệp cho thuê lao động, nhưng doanh nghiệp cho thuê lao động vẫn có trách nhiệm trả lương và đảm bảo các quyền lợi của người lao động theo quy định của pháp luật.

+ Thứ hai là: Quan hệ giữa doanh nghiệp cho thuê lao động và doanh nghiệp thuê lại lao động.

Quan hệ giữa hai doanh nghiệp này là quan hệ mang tính dịch vụ được hình thành trên cơ sở hợp đồng cho thuê lại lao động . Theo đó, thì doanh nghiệp cho thuê lao động có trách nhiệm cung cấp cho doanh nghiệp thuê lại lao động lượng lao động mà doanh nghiệp này cần theo điều kiện, tiêu chuẩn mà doanh nghiệp đó đặt ra, đồng thời doanh nghiệp thuê lại lao động có trách nhiệm trả cho doanh nghiệp cho thuê lao động một khoản tiền. Khi hết thời hạn thuê lao động theo hợp đồng, doanh nghiệp thuê lại lao động sẽ hoàn trả lại số lao động đã thuê cho doanh nghiệp cho thuê lao động.

+ Thứ ba: Quan hệ giữa người lao động được cho thuê lại và doanh nghiệp thuê lại lao động.

Trong mối quan hệ này, thì doanh nghiệp thuê lại lao động tuy không phải là người sử dụng lao động nhưng lại có quyền điều hành, giám sát, quản lý đối với người lao động cho thuê lại trong quá trình người lao động này thực hiện các nghĩa vụ lao động tại doanh nghiệp mình. Cơ sở của mối quan hệ này là quann hệ dân sự thực hiện đúng nghĩa vụ. Tuy nhiên, nếu trong trường hợp người lao động vi phạm các nghĩa vụ lao động hay có hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì doanh nghiệp thuê lại lao động không tiến hành xử lý mà trả lại người lao động cho doanh nghiệp cho thuê lao động (nếu trường hợp họ không muốn sử dụng nữa).

Đây là mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp hoạt động môi giới việc làm. Họ tuyển lao động phổ thông theo nhu cầu của doanh nghiệp sản xuất và ký hợp đồng lao động với số lao động này, sau đó cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất theo hợp đồng cung ứng lao động. Các doanh nghiệp sản xuất bố trí việc làm cho NLĐ nhưng không quản lý NLĐ. Doanh nghiệp sản xuất trả tiền công cho NLĐ và phí dịch vụ cho doanh nghiệp cung ứng lao động.
 


Phần mềm dự toán Khắc phục được những hạn chế của các phần mềm Dự toán, Để làm được điều này yêu cầu người lập phải có kinh nghiệm excel tốt. Nắm vững các định mức, đơn giá, hiểu bản chất về dự toán… Cần người
Cáp điều khiển ALANTEK 18AWG 1 pair Cáp điều khiển còn tác động từ bộ nguồn phát đến hệ, Các lõi cách điện sẽ được bện lại và được làm cho tròn cáp. Theo yêu cầu sử dụng mà số lõi được qui định như nào, vỏ bọc lõi dùng màu đen được
Đèn chống cháy nổ Sản phẩm đèn chống cháy nổ thương hiệu Chúng tôi chỉ sử, Với kinh nghiệm gần 10 chuyên tư vấn, thiết kế và thi công hệ thống chiếu sáng cho nhà máy, xí nghiệp, nhà xưởng, công trình….các bạn hoàn toàn yên tâm

- Phone: +84-908-744-256